Lập trường của Việt Nam về Biển đông được cộng đồng quốc tế ủng hộ

360luatphap – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nói: “… Năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa khi đó do chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, quản lý. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp”.

Chất vấn của 22 đại biểu Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 2 vào sáng 25/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tập trung trả lời vào một số nội dung chính đang được cử tri và dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Đó là chủ trương của Chính phủ để bảo đảm chủ quyền của nước ta ở Biển Đông, đảm bảo cho các ngư dân của ta đánh bắt ở Biển Đông; vấn đề liên quan tới Luật Biểu tình…

Về đảm bảo chủ quyền biển đông

“Quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC) đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc, căn cứ vào thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển mà Việt Nam và Trung Quốc mới ký trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với những vấn đề trên biển Đông…”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời.

Về đàm phán phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết: “Trong vịnh Bắc Bộ, sau nhiều năm đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới năm 2000, còn vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, theo Công ước Luật Biển năm 1982 thì Việt Nam và Trung Quốc cần tiến hành đàm phán, giải quyết.

Từ năm 2006,  hai nước đã tiến hành đàm phán, tới năm 2009 hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường hai bên còn khác xa nhau. Đến đầu năm 2010 hai bên thỏa thuận nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Nguyên tắc đó đã được hai bên ký kết nhân dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc vừa qua.

Trên nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển này thì vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ thuộc quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì vậy 2 nước cùng nhau đàm phán trên cơ sở Công ước Luật Biển, trên cơ sở DOC và trên cơ sở các nguyên tắc đã thỏa thuận. Để có một giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được, chúng ta đang thúc đẩy cùng với Trung Quốc xúc tiến đàm phán giải quyết việc phân định này.

Trong khi chưa đạt được thỏa thuận phân định thì trên thực tế với chừng mực khác nhau, hai bên cũng đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Cũng trên cơ sở này chúng ta có đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm an ninh, an toàn trong việc đi lại, vận chuyển của tàu bè và khai thác nghề cá của đồng bào ta.

Quần đảo Hoàng Sa và Trường sa là của Việt Nam

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Việt Nam khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ khi 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào. Chúng ta đã làm chủ và duy trì chủ quyền trên thực tế. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa.

Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa khi đó do chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, quản lý. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp.

Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam ViệtNamlúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này.

Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của ViệtNam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này.

Chúng ta đã chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, phù hợp với Công ước về Luật Biển, phù hợp với Tuyên bố DOC.

“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý, thực hiện chủ quyền của đất nước đã có cơ sở từ trong lịch sử và được luật pháp quốc tế công nhận ngày càng đầy đủ và và hiệu quả hơn”.

Duy nhất có cư dân Việt Nam đang làm ăn sinh sống trên một số đảo

Vấn đề về quần đảo Trường Sa, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Năm 1975 khi thực hiện giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, Hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca.

Sau đó với chủ quyền của mình, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm 21 đảo, với 33 điểm. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta.

Như vậy trên quần đảo Trường Sa, ViệtNamlà quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.

Được cộng đồng quốc tế ủng hộ

Theo Thủ tướng Chính phủ, chủ trương của Việt Nam thực hiện chủ quyền đối với Trường Sa, thứ nhất là chúng ta nghiêm túc thực hiện Công ước Luật Biển, nghiêm túc thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở biển Đông (DOC) và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây chúng ta đã ký kết với Trung Quốc.

Việt Nam yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này.

Thứ hai, chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế – xã hội và cơ sở vật chất, kỹ thuật ở những nơi chúng ta đang có mặt, bao gồm cả đường sá, điện, trạm xá, trường học, nước… để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân đảo Trường Sa.

Thứ ba, Chính phủ đang yêu cầu sơ kết đánh giá lại cơ chế chính sách hỗ trợ đồng bào ta khai thác thủy, hải sản, vận tải biển trong khu vực này để  khuyến khích bà con làm ăn sinh sống, thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa này.

Thứ tư, liên quan tới cam kết quốc tế, chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố DOC  về bảo đảm tự do hàng hải ở Biển Đông, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông.

Bởi đây là mong muốn, là lợi ích của tất cả các bên liên quan, không chỉ vì Việt Nam mà là của tất cả các bên liên quan, của các nước khác. Vì Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ Đông sang Tây, tuyến đường này là tuyến vận tải chiếm 50%-60% tổng lượng hàng hóa vận tải từ Đông sang Tây.

Thủ tướng cũng cho biết, lập trường này của chúng ta được cộng đồng quốc tế ủng hộ, gần đây nhất là tại Hội nghị Cấp cao ASEAN và Cấp cao giữa ASEAN với các đối tác.

“Việt Nam cũng kiên quyết khẳng định chủ quyền trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ViệtNamtheo Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982, một cách ngày càng đầy đủ, hiệu quả hơn”, Thủ tướng khẳng định.

Đề nghị Quốc hội xem xét Luật biểu tình

Đồng thời trả lời chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) liên quan đến việc Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét đưa vào nội dung chương trình xây dựng luật của Quốc hội khóa XIII Luật Biểu tình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, theo Điều 69 của Hiến pháp và trong thực tế cuộc sống, đã có nhiều cuộc tụ tập đông người bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị chính quyền, nhưng chúng ta lại chưa có chính sách quản lý vấn đề này. Do đó đã có lúng túng nảy sinh trong quản lý cũng như có việc lợi dụng kích động gây phương hại cho xã hội.

Trước tình hình này, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội khóa XII. Quốc hội khóa XII đã yêu cầu Chính phủ ban hành Nghị định để quản lý, điều chỉnh. Nhưng do hiệu lực pháp luật Nghị định của Chính phủ chưa đáp ứng được yêu cầu của Hiến pháp cũng như thực tế đặt ra, Chính phủ đã kiến nghị Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng pháp luật để xây dựng Luật Biểu tình.

Luật này phù hợp với Hiến pháp, phù hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam và thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân cũng như sẽ ngăn chặn hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự an toàn xã hội .

“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết: Chủ trương của Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng và khuyến khích với tất cả các hoạt động của mọi người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia; nhưng đồng thời cũng không hoan nghênh và phải buộc xử lý nghiêm theo pháp luật những hành vi với động cơ lợi dụng danh nghĩa lòng yêu nước, lợi dụng danh nghĩa bảo vệ chủ quyền để thực hiện việc làm gây phương hại cho đất nước”.

http://phapluatvn.vn/thoi-su/201111/Lap-truong-cua-Viet-Nam-ve-Bien-dong-duoc-cong-dong-quoc-te-ung-ho-2060906/

Theo Pháp luật Việt Nam Online

 

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s